Chấp Quyền Ấm (执权壶) 664

Nghệ nhân:Triệu Lệ Quyên Triệu Lệ Quyên - 赵丽娟
Loại đất:Thâm Tỉnh Lão Tử Nê    (深井老紫泥)
Dung tích (ml):320

• Nguyên tác: Từ Tú Đường (徐秀棠)

Chấp Quyền Ấm (执权壶) nguyên là tác phẩm của Từ Tú Đường (徐秀棠); hiện do Triệu Lệ Quyên (赵丽娟) lâm mô phục khắc (临摹复刻) và chế tác. Danh xưng “chấp quyền” (执权) theo ghi chép là một loại cân trà thời xưa (古时的茶秤), dùng để cân trà. Bởi vậy toàn bộ ngôn ngữ tạo hình của ấm được triển khai theo hướng vừa khí dụng vừa khí cổ, có dụng ý “cầm – nắm – cân” trong từng chi tiết.

Thân ấm biển viên (扁圆形), được nâng bởi hệ đinh túc (钉足) theo lối minh tiếp (明接) đỡ lên, tạo thế tứ phương đỉnh lập (四方鼎立) — lực đạo phân bố đều, khối dáng dày mà nhuận (厚重腴润). Vòi lưỡng loan (两弯) dạng miệng tròn cũng xử lý minh tiếp, thế xuất tự nhiên, có “phong thần” riêng (别具风神). Quai hoành bả (横把) vươn chếch, gợi liên tưởng vừa như phần tay cầm của binh khí cổ, vừa như đầu cân của đòn cân (杆秤秤头); đoạn gấp – chuyển mềm dẻo, phụ kiện trang sức tinh xảo, làm tăng thần vận cho toàn khí.

Nắp theo kiểu hư áp (虚压盖), liền mạch với đoản trực cảnh (短直颈), tạo cảm giác “quán thông nhất khí” (贯通一气). Đỉnh nắp no tròn (穹顶饱满圆润); núm dạng uyển để (圆碗底形钮), đĩnh đạc, cân xứng (端凝趋匀). Trên thân và nắp có hệ đinh hình đột văn dạng “vòng” (五圈圆钉形凸纹): các nút lồi trang trí chạy quanh nắp – vai – thân, sắp đặt có trật tự, lớn nhỏ đan xen, “tụ điểm thành tuyến”, tạo nhịp điệu đường nét. Dạng trang trí này được liên hệ với kỹ pháp tương ứng trên biên chung Tăng Hầu Ất thời Chiến Quốc (战国时期的曾侯乙编钟), đưa vào tử sa tạo hiệu quả trang trọng, cổ phác, càng thưởng càng thấy “có vị”.

Tổng thể là sự dung hợp giữa hai cực: một mặt cương kình – ổn kiện – hào mại – phác chuyết (刚劲、稳健、豪迈、朴拙) mang vẻ đẹp dương cương; mặt khác thư triển – lưu loát – viên nhuận – hàm súc (舒展、流畅、圆润、含蓄) mang vẻ đẹp âm nhu. Khi chăm pha dưỡng bằng Sinh Phổ (生普), tác phẩm được mô tả sẽ hiện sắc thái thương nhuận (苍润) rõ hơn, càng dùng càng “ngấm” cổ vận.


Thuộc tính ấm:
  • Tử nê (紫泥)
  • Cổ khoáng