Triệu Phác Sơ

Tên tiếng Trung: 赵朴初
Tên tiếng Anh:
Năm sinh:1907
Chức danh:
Triệu Phác Sơ (赵朴初, 1907–2000) từng đảm nhiệm các chức vụ: Phó hội trưởng Hội Hữu nghị Trung–Nhật (中日友好协会副会长), Phó hội trưởng kiêm Hội trưởng danh dự Hội Chữ thập đỏ Trung Quốc (中国红十字会副会长、名誉会长), Phó hội trưởng Hội Nhân dân Trung Quốc Tranh thủ Hòa bình và Giải trừ Quân bị (中国人民争取和平与裁军协会副会长), Phó chủ tịch Hội Thư pháp gia Trung Quốc (中国书法家协会副主席). Ông là đại biểu Quốc hội toàn quốc khóa I, II, III, IV; Ủy viên Ủy ban Toàn quốc Chính Hiệp khóa I, II, III; Ủy viên Thường vụ Chính Hiệp toàn quốc khóa IV, V; Phó Chủ tịch Chính Hiệp toàn quốc khóa VI, VII.

Ông là người huyện Thái Hồ, tỉnh An Huy (安徽太湖人). Từ nhỏ đã tiếp thu gia học, cần mẫn nghiên cứu văn–sử–triết. Thời đại học bắt đầu tiếp xúc với Phật học, từ đó dần dần đi sâu khám phá giáo lý và tư tưởng các tông phái Phật giáo.

Đầu thập niên 1930, ông từng giữ chức Thư ký, rồi Chánh thư ký Hội Phật giáo Trung Quốc (中国佛教会秘书、主任秘书), tận tâm với sự nghiệp Phật giáo và các hoạt động cứu tế xã hội. Năm 1936, ông tham gia phong trào cứu quốc kháng Nhật, khởi xướng thành lập Hội Phật giáo Trung Hoa Hộ quốc Hòa bình (中华佛教护国和平会). Sau khi chiến tranh kháng Nhật bùng nổ, ông tham gia Ủy ban Liên hợp Cứu tế Các Đoàn thể Từ thiện Thượng Hải (上海慈善团体联合救灾会), thu nhận, cứu trợ người tị nạn ở vùng chiến sự, đồng thời vận động đông đảo thanh niên trai tráng tham gia kháng chiến.

Năm 1939, ông tham gia phong trào Thúc đẩy Hiến chính (宪政促进运动). Năm 1945, cùng Mã Tự Luân (马叙伦), Hứa Quảng Bình (许广平)… khởi xướng thành lập Trung Quốc Dân chủ Thúc tiến Hội (中国民主促进会), tranh thủ dân chủ, phản đối nội chiến. Trước thềm Thượng Hải giải phóng, ông tổ chức Ủy ban Lâm thời Liên hợp Cứu tế Thượng Hải (上海临时联合救济委员会), tiếp nhận sắp xếp chỗ ở cho công nông thất nghiệp và dân lưu tán.

Năm 1949, ông đại diện giới Phật giáo tham dự Hội nghị toàn thể lần thứ nhất Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc (中国人民政治协商会议第一届全体会议). Năm 1952, ông khởi xướng và phụ trách chuẩn bị thành lập Hiệp hội Phật giáo Trung Quốc (中国佛教协会). Sau khi Hiệp hội Phật giáo Trung Quốc thành lập, ông lần lượt giữ chức Tổng thư ký, Phó hội trưởng, Hội trưởng…, lãnh đạo và đoàn kết Phật tử các dân tộc trong cả nước phát huy truyền thống tốt đẹp của Phật giáo, ái quốc ái giáo. Ông từng đảm nhiệm Viện trưởng Học viện Phật giáo Trung Quốc (中国佛学院院长), Cố vấn Học viện Phật học cao cấp Hệ Tạng ngữ Trung Quốc (中国藏语系高级佛学院顾问), Chủ tịch Ủy ban Hòa bình Tôn giáo Trung Quốc (中国宗教和平委员会主席).

Ông thúc đẩy sự phát triển của sự nghiệp Phật giáo trên nhiều phương diện, tăng cường giao lưu hữu nghị và trao đổi văn hóa giữa Phật giáo Trung Quốc và Phật giáo quốc tế. Năm 1982, ông được Hiệp hội Truyền đạo Phật giáo Nhật Bản (日本佛教传道协会) đặc biệt trao tặng “Giải Công lao Truyền đạo” (传道功劳奖); Đại học Phật giáo Nhật Bản (日本佛教大学) phong tặng học vị Tiến sĩ danh dự. Năm 1985, ông được Quỹ Hòa bình Đình Dã Nhật Bản (日本庭野和平财团) trao tặng “Giải Hòa bình” (和平奖).
Điểm nổi bật:
Ấm đã sưu tầm: