Trương Đại Thiên

Tên tiếng Trung: 张大千
Tên tiếng Anh:Zhang Daqian
Năm sinh:1899
Chức danh:
Trương Đại Thiên (张大千) là một trong những đại sư quốc họa có tầm ảnh hưởng lớn nhất trên họa đàn đương đại Trung Quốc. Ông sinh năm 1899 tại Nội Giang, Tứ Xuyên, tên khai sinh là Trương Chính Quyền (张正权), sau đổi thành Trương Viên (张爰), hiệu là Đại Thiên Cư Sĩ (大千居士). Ông là họa gia toàn năng, sáng tác của ông “gom hết sở trường của các phái, dung hội vẻ lộng lẫy của Nam – Bắc nhị tông”, kết hợp trong một thể hệ: họa văn nhân, họa tác gia, hội họa cung đình và nghệ thuật dân gian. Ở các lĩnh vực nhân vật, sơn thủy, hoa điểu, ngư trùng, tẩu thú trong tranh quốc họa Trung Quốc, từ công bút đến ý bút, không gì ông không tinh thông. Thơ văn của ông chân thành hào phóng; thư pháp thì cứng cáp tung bay, ngoài mềm trong cương, phong thái độc đáo.

Trương Đại Thiên đặc biệt có thành tựu xuất sắc trong tranh sơn thủy. Về sau ông sống lưu trú ở hải ngoại, phong cách hội họa kết hợp công – tả, dung hòa trọng thái màu sắc với thủy mặc; nhất là kỹ pháp phá mặc, phá thái (泼墨、泼彩), đã khai mở một phong cách nghệ thuật mới. Do thơ, thư, họa của ông sánh ngang cùng Tề Bạch Thạch (齐白石) và Phổ Tâm Xà (溥心畲), nên được xưng tụng là “Nam Trương Bắc Tề” (南张北齐), “Nam Trương Bắc Phổ” (南张北溥), danh hiệu nhiều không kể xiết. Ông lại cùng Hoàng Quân Bích (黄君璧), Phổ Tâm Xà được gọi chung là “Độ Hải Tam Gia” (渡海三家). Từ hơn hai mươi tuổi, ông đã để râu quai nón rất dài, trở thành dấu ấn đặc trưng của Trương Đại Thiên về sau.

Thuở nhỏ, Trương Đại Thiên chịu ảnh hưởng hun đúc từ người mẹ và anh chị đều giỏi hội họa, nên sớm yêu thích thư họa. Năm 1920, sau khi từ Nhật Bản về nước học ngành in nhuộm, ông giảng dạy tại Thượng Hải, đồng thời bái danh sư Tăng Hỷ (曾熙, hiệu Long Nhiêm 龙髯), Lý Thụy Thanh (李瑞清) học thơ văn và thư họa. Ban đầu ông chuyên tâm phỏng cổ, luyện tập tranh của Thạch Đào (石涛), Bát Đại Sơn Nhân (八大山人), Thanh Đằng (青藤), Bạch Dương (白阳) cùng chư gia đời Đường, Tống, Nguyên, Minh. Năm 1932, ông từng tổ chức triển lãm tranh tại Bắc Bình và Nam Kinh; phong cách nghệ thuật của ông từ “sư pháp cổ nhân” chuyển sang “sư pháp tự nhiên”. Về sau ông lại lặn lội đến Đôn Hoàng, chép lại bích họa suốt hai năm rưỡi, luyện nên bút mực công lực thâm hậu. Đặc biệt từ những năm 1950 trở về sau, ông sáng tạo kỹ pháp “phá mặc phá thái” (破墨泼彩), mở lối bước vào “vương quốc tự do lấy tâm làm thầy”, độc lập sừng sững trong rừng nghệ thuật thế giới.
Điểm nổi bật:
  • Lão nghệ nhân
  • Hội hoạ
Ấm đã sưu tầm: