Chu Khả Tâm

Tên tiếng Trung: 朱可心
Tên tiếng Anh:
Năm sinh:
Chức danh:
Chu Khả Tâm (朱可心, 1904年10月 – 26/3/1986), nghệ danh “Khả Tâm” (可心), hàm ý “người biết khiêm tốn thì có thể làm thầy” (“虚心者,可师也”).
Năm 15 tuổi, ông bái Uông Thăng Nghĩa (汪升义) làm thầy, kết thành sư hữu với Ngô Vân Căn (吴云根) và Uông Bảo Căn (汪宝根).

Với sự khiêm tốn hiếu học và tinh thần không ngừng sáng tạo, tài năng chế tác ấm của ông sớm tỏa sáng. Sau đó, nhờ Ngô Vân Căn giới thiệu, năm 1927 ông được Trường Đảng nghề nghiệp Gốm sứ tỉnh lập Nghi Hưng, Giang Tô (江苏省立宜兴陶瓷职业党校) mời làm thợ kỹ thuật lò nung, trong thời gian này sáng tác các bộ đồ cà phê – trà bằng tử sa.

Năm 1932, ông thiết kế và chế tác “Vân Long đỉnh” (《云龙鼎》) cao 84 cm, tham gia trưng bày tại Hội chợ Chicago ở Mỹ được tổ chức trăm năm một lần, và đoạt giải đặc biệt. Sau đó, tác phẩm “Trúc đỉnh” (《竹鼎》) được trưng bày tại chợ Bồng Lai Thượng Hải (上海蓬莱市场), được Tống Khánh Linh (宋庆龄) sưu tầm với giá 500 bảng Anh. Nhờ tay nghề xuất sắc, ông được thăng làm kỹ sư (技师). Trong tám năm kháng chiến chống Nhật, nhà trường ngừng hoạt động; năm 1945 trường mở lại, ông ở trường đảm nhiệm chức giáo viên công nghệ.

Tháng 12 năm 1953, ông được mời tham dự “Đại hội tham quan – quan mô nghệ nhân dân gian toàn quốc” (全国民间艺人观摹大会) do Bộ Văn hóa (文化部) tổ chức, mang theo các tác phẩm “Vân Long ấm” (《云龙壶》), “Viên Tùng Trúc Mai ấm” (《圆松竹梅壶》). Nghệ nhân từ khắp nơi trên cả nước tập trung tại Học viện Công nghệ mỹ thuật Trung ương (中央工艺美术学院) để kiểm tra tay nghề. Khi đó ông không mang theo dụng cụ chế tác, bèn dùng tre và bút đồng thay thế, nặn khéo thành một giá cắm bút hình mai và gốc cây (梅椿笔架); màn trình diễn kỹ pháp gốm nghệ thuần thục khiến người xem ai nấy đều tán thưởng. Ông nhận được tiền thưởng, quà tặng và huy chương do Bộ Văn hóa trao tặng.

Mùa hè năm 1954, ông tham gia lớp nghiên cứu mỹ thuật dân gian (民间美术研究班) của phân viện Hoa Đông thuộc Học viện Công nghệ mỹ thuật Trung ương (中央工艺美术学院华东分院). Trong 5 tháng học tập, ông được nghe các họa gia nổi tiếng như Hoàng Bảo Hồng (黄宝虹), Bàn Thiên Thọ (潘天寿) v.v. giảng dạy lý luận mỹ thuật, cùng với các nghệ nhân dân gian đến từ năm tỉnh một thành phố khu vực Hoa Đông trao đổi kinh nghiệm sáng tác và tay nghề, mở rộng tầm mắt, nâng cao tố dưỡng nghệ thuật; điều này có tác dụng rất lớn đối với sự phát huy sáng tác gốm tử sa (紫砂陶艺) giai đoạn sau của ông. Sau khi kết khóa, để cứu vãn và kế thừa những kỹ nghệ vốn lừng danh trong công nghệ gốm sứ nước nhà, ông vận động các nghệ nhân tử sa đang phân tán khắp nơi tổ chức lại, thành lập “Xưởng tử sa Hợp xã Nghiệp Xã Thục Sơn” (蜀山业社紫砂工场), và giữ chức phó chủ nhiệm.

Năm 1955, ông cùng vài nghệ nhân khác mở “Lớp công nghệ tử sa” (紫砂工艺班), đào tạo thế hệ đầu tiên các nghệ nhân tử sa có trình độ văn hóa của nước Trung Hoa mới, hoàn thành các đơn hàng chỉ tiêu nhà nước, hiện phẩm trưng bày và đơn đặt hàng của khách.

Năm 1956, ông được bổ nhiệm làm cán bộ phụ đạo kỹ thuật tạo hình tử sa (紫砂成型技术辅导员). Ông thiết kế, sáng tác các tác phẩm như “Viên Tùng Trúc Mai ấm” (《圆松竹梅壶》), “Tùng thử bồ đào” (《松鼠葡萄》), “Nhất tiết Trúc đoạn” (《一节竹段》), “Phỏng cổ Trúc đề” (《仿古竹提》) v.v., được đưa vào “Triển lãm lưu động Công nghệ mỹ thuật Trung Quốc” (中国工艺美术巡回展), mang đi triển lãm tại Siguoka (斯裹卡) v.v., và đoạt giải nhất. Những tác phẩm này hiện được lưu giữ tại Viện Bảo tàng Nam Kinh (南京博物馆院).

Năm 1957, ông cùng Nhậm Hạm Đình (任淦庭) và Cố Cảnh Chu (顾景舟) tham dự Đại hội đại biểu nghệ nhân dân gian toàn quốc (全国民间艺人代表大会).

Năm 1958, ông tham gia “Triển lãm Công nghệ mỹ thuật toàn quốc lần thứ nhất” (第一届全国工艺美术展览) được tổ chức trên lầu cổng thành Cố Cung Bắc Kinh (北京故宫门城楼). Tác phẩm “Tùng thử bồ đào ấm” (《松鼠葡萄壶》) của ông được đông đảo người trong và ngoài nước tán thưởng, được giáo sư Cao Tráng (高壮) của Học viện Công nghệ mỹ thuật Trung ương sưu tầm. Cùng thời gian, ông tham gia hội nghị thảo luận về “Mười đại kiến trúc Bắc Kinh” (北京十大建筑), và thiết kế bộ trà cụ tử sa.

Năm 1959, ông dày công phỏng chế chiếc “Hạng Tư Đào bôi” (《项思桃杯》) – cổ vật cấp quốc gia do Bảo tàng Nam Kinh (南京博物馆) lưu giữ, mất hơn 4 tháng mới hoàn thành và nhờ đó được vinh dự đặc biệt. Năm 1960, ông trở thành hội viên Hội Mỹ thuật Trung Quốc (中国美术家协会). Từ đây, ông bước vào giai đoạn sáng tác sung mãn, thiết kế các kiểu ấm: “Như Ý ấm” (《如意壶》), “Vân Ngọc ấm” (《云玉壶》), “Cao phong cà phê ấm” (《高锋咖啡壶》), “Nghênh tân tửu cụ” (《迎宾洒具》), “Tưởng bôi ấm” (《奖杯壶》), “Vạn Thọ ấm” (《万寿壶》), “Oản mai ấm” (《碗梅壶》), “Khả Tâm lê thức ấm” (《可心梨式壶》) v.v., trong đó nhiều kiểu trở thành sản phẩm gốm công nghệ tử sa bán rất chạy.

Năm 1964, ông dày công phỏng chế “Bọc phục ấm” (《包袱壶》) của Trần Minh Viễn (陈鸣远), đạt đến mức độ “giả mà như thật”, cho thấy kỹ nghệ tử sa của ông đã đạt cảnh giới “lò lửa thuần thục” (炉火纯青). Tác phẩm chủ lực “Khả Thọ ấm” (《可寿壶》) từng lần lượt được tặng cho Đại tướng Từ Hải Đông (徐海东) và Chủ tịch Mao (毛主席).

Đầu thập niên 1970, ông vẫn miệt mài sáng tác gốm tử sa, lần lượt thiết kế – chế tác các tác phẩm: “Xảo sắc Thị tử ấm” (《巧色柿子壶》), “Thái điệp ấm” (《彩蝶壶》), “Cao ấm” (《高壶》), “Báo xuân ấm” (《报春壶》), “Mạnh tùng ấm” (《劲松壶》), “Thúy tùng ấm” (《翠松壶》). Năm 1973, ông lần đầu sáng tạo ra một dáng ấm – nhiều kiểu trang trí: trên thân ấm có dạng trái tim, lần lượt chạm khắc tùng xanh, tùng biếc, mai tuyết, bách cổ, đào biếc… được đông đảo người trong và ngoài nước hoan nghênh. Chiếc “Khả Tâm lê thức ấm” (《可心梨式壶》) được ông dày công chế tác được Quốc vụ viện (国务院) chọn làm quốc lễ, tặng Thủ tướng Nhật Bản Trung Giác Vinh (中角荣).

Năm 1978, ông được đánh giá, phong làm Công nghệ mỹ thuật sư (工艺美术师), lần lượt đảm nhiệm các chức vụ như Ủy viên Ủy ban Văn giáo tỉnh Giang Tô (江苏省文聊委员), Ủy viên Thường vụ Chính hiệp Nghi Hưng (宜兴政协常委) v.v. Năm 1978, tại Thượng Hải diễn ra hội nghị “Sáng tác thiết kế mỹ thuật gốm sứ toàn quốc” (全国陶瓷美术创作设计). Tháng 10 năm 1985, Đài Truyền hình Thượng Hải (上海电视台) quay phim truyền hình, trong đó ông chế tác một chiếc “Phỏng cổ ấm” (《仿古壶》), sau đó lại thực hiện tác phẩm cuối đời của mình là “Hán biền ấm” (《汉扁壶》).

Chu Khả Tâm có trình độ nghệ thuật sâu, năng lực thiết kế mạnh, giỏi hút cảm hứng và đề tài sáng tác từ tự nhiên, phong cách dày dặn, thuần hậu, khuôn phép thỏa đáng. Tác phẩm “Vân Long ấm” (《云龙壶》) ông làm khi còn trẻ, trang sức mây hè biến hóa khôn lường, khí vận liên thông, là một sáng tác thành công, hình tượng sinh động. “Viên Tùng Trúc Mai ấm” (《圆松竹梅壶》) thoát khỏi khuôn khổ hình thân cây truyền thống, lược bỏ rườm rà, giữ lại tinh giản, vừa đẹp vừa thực dụng. Tác phẩm cuối đời “Thái điệp ấm” (《彩蝶壶》) có ý tưởng mới mẻ, lấy sự giản dị làm nền cho cái phong phú, dùng bướm biếc làm núm nắp, có được hiệu quả “họa long điểm tinh” đầy thần thái.

Ông miệt mài bồi dưỡng nhiều nhân tài đa kỹ năng trong lĩnh vực nặn – tạo hình ấm tử sa (紫砂塑器), số người thành tựu rất nhiều; hơn nữa ông thường xuyên trực tiếp chỉ dạy tại chỗ, khiến mặt bằng kỹ nghệ tạo hình ấm tử sa nhìn chung được nâng lên rõ rệt.




Điểm nổi bật:
  • Thất lão tử sa
Ấm đã sưu tầm:
Loại đất:Đoạn Nê
Dung tích (ml):400
Loại đất:Lão lục nê
Dung tích (ml):400