Thời xưa khoáng tử sa được khai thác như thế nào?

10-11-2025

Khoáng tử sa (紫砂矿) nằm dưới đất, thường kết hợp cùng các loại đất thô dùng làm đồ gốm, tầng khoáng mỏng và không tồn tại đơn lẻ. Việc khai khoáng có hai hình thức: lộ thiên và đào hầm.


Đối với Hồng nê (红泥), vì nằm gần bề mặt nên chủ yếu khai thác lộ thiên.

Còn Tử nê (紫泥) và Lục nê (绿泥) thì nằm sâu trong lòng đất. Vào thời Minh, Chu Cao Khởi (周高起) trong sách 《Dương Huy tử hồ hệ》 (阳羡茗壶系) đã viết: “Đều phải đào sâu hàng chục mét mới có được” (皆深入数十丈乃得), còn Ngô Mai Tỉnh (吴梅鼎) trong 《Dương Huy tử hồ ký》 (阳羡茗壶记) viết: “Phải đào hàng nghìn giếng mới tìm thấy, nếu vào hẻm núi thì có thể phải đào hàng trăm nơi” (宛掘井兮千寻,若入淇兮百仞).


Trước thập niên 1950, kỹ thuật khai thác tại Nghi Hưng (宜兴) chưa có điện lực, động cơ cơ khí hay kỹ thuật nổ mìn. Hình thức khai thác chuyên dụng là “cổ đản” (古旦, đọc là dàng, nghĩa là hang động). Người ta sẽ chọn những chỗ trũng của núi đá để thử đào “nhãn khẩu” (眼口 – điểm lộ thiên), nếu thấy đất thì sẽ đào sâu xuống hình thành “cổ đản”.


Sau khi đào khoảng hơn 1 mét, dùng đá hoàng thạch chống đỡ mái hang, miệng hang rất hẹp nên phải bò vào ra, đường hầm đào xuyên sâu vào lòng núi đến vài trượng, thậm chí sâu đến vài chục mét. Chiếu sáng bằng đèn dầu đậu nành, lấy thiếc làm gương phản chiếu, chống đỡ bằng khung tre, vận chuyển bằng quạt tay.


Để phòng sập hầm, người khai mỏ phải gõ vào nóc hang để nghe vang âm “Ăn cơm dương gian, làm việc âm giới” (吃阳界饭干阴界活). Khoáng tử sa sau khi đào ra, được đưa bằng “xe đầu chó” (狗头车 – xe gỗ bánh độc nhất) vận chuyển tới bờ sông dưới chân núi để chất lên thuyền, sau đó phân phối đến các xưởng tinh luyện chuyên dụng gọi là “ma hộ” (磨户).


Từ năm 1965 trở đi, bắt đầu áp dụng kỹ thuật nổ mìn, khai thác bằng cơ giới và vận chuyển bằng đường ray thép. Hai mỏ nổi tiếng là:

  • “Giếng số 4” (四号井), tọa lạc tại thôn Bạch Thạch, núi Hoàng Long, trấn Dự

  • “Giếng số 5” (五号井), tọa lạc tại núi Hùng Cương, trấn Dự