Nhậm Hạm Đình (任淦庭, 1888.8–1969.12), còn gọi Cán Đình (干庭), tự Phẫu Thạc (缶硕), hiệu Sấu Thạch (漱石), Thạch Khê (石溪), Điếc Nhân (聋人), Đại Điếc (大聋), Tả Dân (左民), Tả Uyển Đạo Nhân (左腕道人).
Quê ở Nghi Hưng, Giang Tô (江苏宜兴), là bậc thầy điêu khắc gốm sứ.
Trong nhà ông đứng hàng thứ ba: anh cả là Nhậm Hạm Khôn (淦坤), giỏi khắc giấy; anh thứ hai chẳng may mất sớm; em trai thứ tư là Nhậm Hạm Nho (淦儒), chuyên vẽ hoa điểu và nhân vật. Các đệ tử đời sau của ông có nhiều danh gia陶刻 đương đại như Từ Tú Đường (徐秀棠), Thảm Tuyền Hải (谭泉海), Mao Quốc Cường (毛国强), Bảo Chí Cường (鲍志强), Thẩm Hán Sinh (沈汉生), Hàm Trọng Anh (咸仲英), Bảo Trọng Mai (鲍仲梅)…
Thuở nhỏ ông chỉ học tư thục ba năm, nhưng vô cùng chăm chỉ hiếu học, thường bẻ cành cây ngồi ngay trên đất mà vẽ và luyện chữ, được người trong làng xem là kỳ tài.
Năm 15 tuổi, ông theo danh gia điêu khắc – thư họa Nghi Hưng Lư Lan Phương (卢兰芳) học công nghệ khắc gốm tử sa (紫砂陶刻工艺). Sau khi mãn sư, ông làm việc tại cửa hàng gốm Ngô Đức Thịnh (吴德盛陶店) ở thành Nghi Hưng, lấy việc khắc vẽ trên đồ gốm làm nghề chính.
Sau khi kháng chiến chống Nhật bùng nổ, nghề gốm dần được khôi phục, ông lại quay về làm công việc chạm khắc đồ gốm tử sa, được thuê vào Xưởng đồ gốm Thuận Hưng (顺兴陶器厂).
Năm 1955, khi đội ngũ nghệ nhân được tập hợp, ông gia nhập Hợp tác xã sản xuất gốm Thục Sơn (蜀山陶业生产合作社), đồng thời đảm nhiệm chức lý sự kiêm giám sự.
Năm 1956, ông được tỉnh Giang Tô (江苏省) bổ nhiệm làm cán bộ phụ đạo kỹ thuật (技术辅导员), và được bầu làm Ủy viên Hội nghị Hiệp thương Chính trị tỉnh Giang Tô (江苏省政协委员).
Năm 1957, ông cùng Chu Khả Tâm (朱可心), Cố Cảnh Chu (顾景舟) v.v. tham dự “Đại hội đại biểu nghệ nhân công nghệ mỹ thuật toàn quốc” (全国工艺美术艺人代表大会) tổ chức tại Bắc Kinh, cùng ngồi một bàn với Ủy viên trưởng Chu Đức (朱德委员长).
Năm 1959, ông vào Bắc Kinh dự lễ mừng 10 năm Quốc khánh nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, tham dự “Toàn quốc quần anh hội” (全国群英会), được các lãnh đạo trung ương thân mật tiếp kiến.
Nhậm Hạm Đình suốt đời say mê thư họa, ngày nào cũng vẽ, để lại lượng lớn bản thảo. Ông dốc lòng nghiên cứu nghệ thuật khắc gốm tử sa (紫砂陶刻艺术), thượng thừa mạch nguồn thư họa – kim thạch Nghi Hưng cuối đời Thanh của các nhà như Trần Mậu Sinh (陈懋生), Trần Nghiên Khanh (陈研卿), Thẩm Thụy Điền (沈瑞田), Lư Lan Phương (卢兰芳), Hàn Thái (韩泰), Thiệu Vân Nho (邵云儒)… rồi truyền lại cho lớp danh gia陶刻 ngày nay như Từ Tú Đường (徐秀棠), Phùng Hi Nhã (冯希雅), Thảm Tuyền Hải (谭泉海), Mao Quốc Cường (毛国强), Bảo Chí Cường (鲍志强), Vương Phẩm Vinh (王品荣), Thẩm Hán Sinh (沈汉生), Hàm Trọng Anh (咸仲英), Bảo Trọng Mai (鲍仲梅) v.v.
Gốm tử sa của ông chủ yếu mang phong cách truyền thống, đề tài rộng, hình thức đa dạng; tranh khắc trên ấm thiên về sơn thủy, hoa điểu, nhân vật, đồ cổ… trong đó nổi bật nhất là đề tài mai, trúc, lan, cúc. Thư pháp, ông tinh thông các thể chữ: khải, thảo, lệ, triện, chung đỉnh, giáp cốt (正、草、隶、篆、钟鼎、甲骨文等书体).
Khi khắc, ông dùng đao pháp biến hóa phong phú để biểu hiện thú vị và vẻ đẹp đường nét陶刻, đem thư pháp, thi từ, ý vị hội họa trang sức lên đồ gốm tử sa một cách giản lược mà hàm súc, khiến nghệ thuật tử sa và nội dung đề khắc hòa quyện thành một chỉnh thể. Điểm kỳ lạ là ông có thể dùng tay trái hoặc tay phải cầm bút đối xứng vẽ lên hai chiếc bình, tạo nên những hoa điểu, sơn thủy, hoa văn tương đồng mà đối xứng.
Nghệ thuật điêu khắc gốm sứ của Nhậm Hạm Đình có ảnh hưởng rất lớn trong giới mỹ thuật Trung Quốc, ông kết giao thân thiết với nhiều họa gia. Đối với các học trò khắc gốm tử sa, ông vừa nghiêm khắc như thầy, vừa hiền từ như cha; các môn đồ ngày nay đều đã thành danh. Khi gần tám mươi tuổi, ông vẫn ngày ngày luyện chữ vẽ tranh; với từng học trò, ông căn cứ vào sở trường của mỗi người mà tặng riêng bản thảo để tham khảo luyện tập. Về sau, tuy sức cổ tay không còn như trước, ông vẫn dùng bút máy để vẽ bản thảo. Tinh thần miệt mài không mỏi ấy đã được người đời ghi nhớ.
• Tác phẩm “Đại Thưởng bình” (大赏瓶) do Nhậm Hạm Đình khắc.
• Tác phẩm “Ấm bí múi núm sư tử” (狮钮瓜棱壶) do Nhậm Hạm Đình khắc.